Hưng Yên tăng cường bảo vệ môi trường, chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên khóa I, nhiệm kỳ 2025-2030 vừa ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TU về tăng cường bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết xác định rõ mục tiêu, các nhiệm vụ trọng tâm và nhóm giải pháp lớn, trong đó khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và huy động nguồn lực xã hội được xem là những yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực quản lý, giám sát và ứng phó.

Nghị quyết được ban hành trong bối cảnh yêu cầu bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu ngày càng đặt ra cấp thiết đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đây cũng là một trong những nội dung có tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, sức khỏe và sinh kế của người dân.

Từ những kết quả bước đầu đến yêu cầu phải hành động quyết liệt hơn

Theo Nghị quyết, giai đoạn 2021-2025, công tác bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh đạt nhiều kết quả quan trọng. Công tác quản lý nhà nước về môi trường được tăng cường; hệ thống văn bản, quy hoạch, kế hoạch từng bước được hoàn thiện. Việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp phép môi trường, kiểm soát chất thải được thực hiện nghiêm túc, góp phần hạn chế nguồn ô nhiễm từ các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất và dự án đầu tư mới.

Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt từng bước được cải thiện; một số địa phương triển khai phân loại rác tại nguồn. Trang thiết bị quan trắc môi trường được đầu tư, một số trạm quan trắc tự động được xây dựng, bước đầu hình thành hệ thống giám sát môi trường theo thời gian thực. Công tác phòng, chống thiên tai được quan tâm; hệ thống đê điều, kè sông, công trình thủy lợi được nâng cấp, các phương án ứng phó thiên tai được xây dựng hằng năm.

Nhận thức của người dân và doanh nghiệp về bảo vệ môi trường cũng từng bước được nâng lên. Một số mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu phát huy hiệu quả; nhiều dự án xử lý nước thải, chất thải rắn, cải thiện môi trường đô thị, nông thôn được triển khai.

Tuy vậy, Nghị quyết thẳng thắn chỉ ra những hạn chế cần khắc phục. Hạ tầng môi trường chưa đồng bộ, nhất là hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt ở đô thị và nông thôn. Công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn tại nhiều địa phương còn hạn chế; một số bãi chôn lấp, lò đốt rác xuống cấp, chưa đáp ứng yêu cầu. Việc phân loại rác tại nguồn còn chậm.

Tại một số cụm công nghiệp, làng nghề, khu dân cư vẫn còn tình trạng xả thải vượt quy chuẩn. Chất lượng nước mặt ở một số đoạn sông, kênh mương có dấu hiệu suy giảm; khí thải, bụi, tiếng ồn tại đô thị và khu sản xuất, dịch vụ chưa được kiểm soát hiệu quả.

Trong khi đó, năng lực quan trắc, dự báo và cảnh báo thiên tai còn hạn chế; hạ tầng đê điều, kè sông, công trình thủy lợi ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu trước diễn biến thời tiết cực đoan. Nắng nóng kéo dài, mưa lớn bất thường, xâm nhập mặn, nước biển dâng diễn biến phức tạp, đòi hỏi các giải pháp ứng phó phải đồng bộ và có tầm nhìn dài hạn hơn.

Nghị quyết xác định những hạn chế trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó có vấn đề nguồn lực đầu tư còn hạn chế, hạ tầng phòng, chống thiên tai chưa được nâng cấp đồng bộ; quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và gia tăng dân số tạo áp lực lớn lên môi trường; phối hợp giữa một số ngành, cấp chưa chặt chẽ; cơ chế huy động nguồn lực xã hội chưa thực sự hiệu quả. Ý thức chấp hành pháp luật về môi trường của một bộ phận doanh nghiệp, người dân còn chưa cao.

Bảo vệ môi trường phải gắn với phát triển bền vững

Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị quyết là xác định bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu có mối quan hệ chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội. Đây là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, đồng thời là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và mỗi người dân.

Nghị quyết nhấn mạnh phương thức quản lý tổng hợp, thống nhất, liên ngành, liên vùng; lấy “phòng” là chính, cơ bản, lâu dài, đồng thời chủ động kiểm soát, xử lý ô nhiễm, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Bảo vệ môi trường được đặt trong mối quan hệ hài hòa với tự nhiên, lấy phòng ngừa làm chính, kết hợp kiểm soát và khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Sức khỏe Nhân dân được xác định là mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và tập trung xử lý dứt điểm các điểm ô nhiễm môi trường.

Đối với phòng, chống thiên tai, Nghị quyết yêu cầu chuyển từ ứng phó bị động sang chủ động quản lý rủi ro, thực hiện phương châm “bốn tại chỗ”, kết hợp kinh nghiệm thực tiễn với khoa học, công nghệ hiện đại.

Đối với biến đổi khí hậu, tỉnh sẽ tích hợp yêu cầu thích ứng vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, lĩnh vực và địa phương; ưu tiên những khu vực dễ bị tổn thương, hệ sinh thái tự nhiên và rừng phòng hộ ven biển. Cùng với đó là thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp, giảm phát thải khí nhà kính và chủ động tham gia các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.

Những mục tiêu cụ thể đến năm 2030

Nghị quyết đặt mục tiêu tổng quát đến năm 2030 là nâng cao toàn diện năng lực bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; kiểm soát chặt chẽ nguồn phát thải, xử lý ô nhiễm, nâng cao chất lượng môi trường sống; giảm mức độ dễ bị tổn thương trước thiên tai và biến đổi khí hậu; phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi phương thức sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo hướng ít phát thải, thân thiện với môi trường.

Các mục tiêu cụ thể được lượng hóa khá rõ: 100% hộ dân sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn; 100% chất thải rắn sinh hoạt đô thị và nông thôn được thu gom, xử lý đạt quy định; 100% chất thải nguy hại được xử lý an toàn; 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn và quan trắc tự động truyền dữ liệu; 100% cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng được xử lý dứt điểm; 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường; tối thiểu 70% lượng nước thải được xử lý và tái sử dụng phù hợp; giảm ít nhất 50% lượng rơm rạ đốt ngoài đồng so với năm 2025; 100% xã, phường có kế hoạch phòng, chống thiên tai được cập nhật hằng năm; giữ tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 1,56%, tương ứng khoảng 4.000 ha; đầu tư, nâng cấp cơ bản các tuyến đê xung yếu, bảo đảm an toàn phòng, chống thiên tai.

Đến năm 2045, Hưng Yên hướng tới trở thành thành phố thông minh, sinh thái và nơi đáng sống, với môi trường xanh, sạch, hệ sinh thái tự nhiên đa dạng được bảo vệ an toàn; sản xuất, kinh doanh và cuộc sống của người dân được bảo đảm trước các rủi ro thiên tai và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.

Xử lý từ những vấn đề môi trường cụ thể

Nghị quyết dành dung lượng lớn cho những nhiệm vụ rất cụ thể.

Trong công nghiệp, tỉnh yêu cầu thu gom, xử lý toàn bộ nước thải, chất thải rắn công nghiệp; hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu, cụm công nghiệp; kiểm soát chặt các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm.

Đối với rác thải sinh hoạt, tỉnh đặt yêu cầu xử lý toàn bộ rác tồn đọng; tổ chức thu gom hằng ngày; đẩy mạnh phân loại, xử lý rác hữu cơ tại hộ gia đình; đầu tư các khu xử lý chất thải tập trung ứng dụng công nghệ hiện đại; xây dựng hệ thống trạm trung chuyển rác tại các vùng đô thị. Việc thu gom khí mê-tan tại các bãi chôn lấp chất thải tập trung cũng được đặt ra.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là xử lý ô nhiễm hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải. Nghị quyết yêu cầu tập trung xây dựng và thực hiện Đề án xử lý ô nhiễm môi trường hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh, hướng tới xử lý 100% lượng nước thải và tái sử dụng nước sau xử lý. Các xã, phường được yêu cầu cải tạo, nâng cấp công trình xử lý nước thải; xây dựng hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt kín và từng bước mở rộng các công trình xử lý phù hợp với điều kiện thực tế.

Tỉnh cũng sẽ xây dựng Kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2026-2030, tăng cường kiểm soát bụi, khí thải, tiếng ồn từ giao thông và các cơ sở công nghiệp.

Đối với nông nghiệp và làng nghề, Nghị quyết yêu cầu tiếp tục đầu tư các điểm thu gom vỏ bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng; xử lý dứt điểm các làng nghề gây ô nhiễm môi trường. Trong đó, làng nghề tái chế nhựa Minh Khai được định hướng di dời các cơ sở, hộ sản xuất vào cụm công nghiệp Minh Khai có hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, đồng thời xử lý chất thải rắn tồn đọng; làng nghề tái chế chì Đông Mai tiếp tục xử lý ô nhiễm tồn dư chì; làng nghề dệt nhuộm Phương La tiếp tục xử lý ô nhiễm nước thải phát sinh.

Tại khu vực nông thôn, tỉnh định hướng xã hội hóa dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải; thực hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”; tăng cường trách nhiệm kiểm tra, giám sát của chính quyền và công an cấp xã đối với hành vi xả thải, đốt chất thải không đúng quy định. Các bãi rác tập trung không phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường sẽ được đóng cửa, chấm dứt hoạt động và có phương án xử lý.

Nghị quyết đồng thời yêu cầu phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn, tận thu phế phụ phẩm nông nghiệp; áp dụng đệm lót sinh học, ép, ủ phân, hầm khí sinh học trong chăn nuôi; tăng cường tái sử dụng chất thải chăn nuôi và quy hoạch các vùng chăn nuôi, khu giết mổ tập trung.

Ở đô thị, lĩnh vực y tế và xây dựng, các nhiệm vụ gồm phân loại rác tại nguồn; tăng cường quét hút, rửa đường; xử lý rác xây dựng, bùn bể phốt; phát triển cây xanh, đô thị sinh thái, thông minh; cải tạo hệ thống thoát nước và xử lý nước thải. Chất thải y tế, chất thải nguy hại phải được phân loại, thu gom, xử lý đúng quy định; hướng tới xây dựng các bệnh viện xanh - sạch - đẹp.

Tỉnh cũng định hướng phát triển phương tiện giao thông sử dụng năng lượng điện, năng lượng xanh; kiểm soát khí thải, tiếng ồn, độ rung; đầu tư hạ tầng giao thông xanh. Tại các công trường, phải kiểm soát bụi, khí thải, vật liệu rơi vãi, ưu tiên vật liệu xanh và công nghệ xây dựng hiện đại.

Chủ động trước thiên tai, thích ứng với khí hậu thay đổi

Với công tác phòng, chống thiên tai, Nghị quyết yêu cầu rà soát các khu vực xung yếu trên hệ thống đê điều, kè, cống; chuẩn bị đầy đủ lực lượng, vật tư, phương tiện theo phương châm “bốn tại chỗ”; tăng cường camera và công nghệ trong theo dõi, phát hiện, xử lý sự cố.

Những khu vực đê sông, đê biển, vùng thường xuyên sạt lở sẽ được ưu tiên nguồn lực. Hệ thống đê điều được đầu tư, gia cố, nâng cấp; kênh mương được nạo vét, kiên cố hóa để nâng cao khả năng thoát lũ, tiêu úng. Tỉnh cũng sẽ đầu tư, nâng cấp cống, trạm bơm, công trình điều tiết; xây dựng hệ thống tiêu thoát nước đồng bộ tại đô thị, khu kinh tế và vùng trũng thấp.

Về thích ứng với biến đổi khí hậu, tỉnh định hướng nâng cấp các tuyến đê sông, công trình tiêu thoát mưa lũ, công trình tại vùng có nguy cơ ngập lụt cao; nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, phòng chống dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi, thủy sản; phát triển giống mới có khả năng thích ứng tốt với thời tiết khắc nghiệt.

Việc khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất phải được quy hoạch hợp lý, hạn chế khai thác nước dưới đất. Các công trình giao thông tại khu vực có rủi ro thiên tai cao được nâng cấp, cải tạo; công nghệ và vật liệu mới có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu được khuyến khích ứng dụng trong xây dựng.

Khoa học, công nghệ và dữ liệu số được đặt vào trung tâm của công tác quản lý

Một nội dung có ý nghĩa trực tiếp đối với ngành khoa học và công nghệ là Nghị quyết dành riêng nhóm giải pháp về chuyển đổi số trong bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tỉnh định hướng hoàn thiện mạng lưới trạm quan trắc nước thải, khí thải tự động tại các khu, cụm công nghiệp và cơ sở có lượng phát thải lớn, truyền dữ liệu trực tiếp để phục vụ giám sát 24/7. Camera và trí tuệ nhân tạo được nghiên cứu ứng dụng tại các điểm nóng có nguy cơ xả thải nhằm phát hiện, cảnh báo sớm hành vi gây ô nhiễm.

Các phương tiện, thiết bị không người lái được sử dụng để giám sát đê xung yếu, khu vực ngập lụt và hỗ trợ đánh giá rủi ro. Công nghệ IoT và AI được định hướng ứng dụng để phân tích dữ liệu mưa, mực nước sông Hồng, sông Luộc, tự động gửi cảnh báo đến chính quyền và người dân. Bản đồ số về các khu vực có nguy cơ cao về lũ, ngập úng cũng sẽ được xây dựng.

Trong nông nghiệp, cảm biến IoT được ứng dụng để đo độ ẩm đất, phục vụ tưới tiêu tự động tại các vùng chuyên canh cây ăn quả, tiết kiệm nước và thích ứng với khô hạn. Tỉnh cũng sẽ tập trung đầu tư cơ sở dữ liệu thống nhất, đồng bộ về bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Cùng với công nghệ, Nghị quyết yêu cầu nâng cao năng lực quản lý nhà nước, hoàn thiện chính sách, tăng cường phối hợp giữa các sở, ban, ngành và địa phương; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm và kiểm soát chặt các nguồn thải lớn.

Tỉnh cũng chủ trương ưu tiên ngân sách nhà nước, đồng thời huy động nguồn lực trong và ngoài nước cho hạ tầng xanh, giảm phát thải khí nhà kính, công nghệ sạch, công trình phòng chống thiên tai và khắc phục sự cố môi trường. Cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ dịch vụ công ích môi trường sẽ được thí điểm, từng bước mở rộng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.

Từ Nghị quyết đến hành động

Để Nghị quyết đi vào cuộc sống, yêu cầu đặt ra không dừng ở việc ban hành văn bản. Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở phải tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến rộng rãi; xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện phù hợp với điều kiện từng địa phương, cơ quan, đơn vị; thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát.

Đảng ủy Hội đồng nhân dân và Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo rà soát, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách liên quan. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tăng cường tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân tham gia bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời tham gia giám sát, phản biện xã hội.

Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì công tác tuyên truyền, phổ biến, học tập, quán triệt Nghị quyết. Các cơ quan báo chí, thông tin và truyền thông xây dựng kế hoạch tuyên truyền, kịp thời phản ánh những tập thể, cá nhân điển hình, mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết.

Với hệ thống mục tiêu được lượng hóa, nhiệm vụ cụ thể đến từng lĩnh vực và yêu cầu tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, Nghị quyết số 14-NQ/TU tạo cơ sở để Hưng Yên triển khai một chương trình hành động dài hạn về môi trường, thiên tai và biến đổi khí hậu. Điểm quan trọng là những vấn đề môi trường được đặt trong tổng thể phát triển của tỉnh, từ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, đô thị, làng nghề đến quản lý tài nguyên, hạ tầng, dữ liệu và đời sống người dân.

Đó cũng là cách để mục tiêu đến năm 2045 về một Hưng Yên thông minh, sinh thái, an toàn và đáng sống được cụ thể hóa từ những việc rất gần với đời sống hôm nay: một nguồn nước được xử lý tốt hơn, một dòng sông được bảo vệ, một bãi rác được xử lý đúng quy định, một tuyến đê an toàn hơn hay một cảnh báo thiên tai đến với người dân sớm hơn.

BTV

Bản đồ hành chính Văn Lâm
Bạn đánh giá thế nào về chất lượng dịch vụ công trực tuyến?

Ý kiến của bạn giúp chúng tôi phục vụ tốt hơn.

Ý KIẾN NGƯỜI DÙNG

Kết quả đánh giá

Chất lượng dịch vụ công trực tuyến

216lượt đánh giá được ghi nhận
Rất hài lòng25%
53 lượt đánh giá
Hài lòng13%
28 lượt đánh giá
Bình thường13%
28 lượt đánh giá
Không hài lòng6%
12 lượt đánh giá
Ý kiến khác44%
95 lượt đánh giá
Cảm ơn bạn đã đóng góp ý kiến!
2.150.674
Tổng truy cập
143
Truy cập hôm nay
20
Đang online