TƯ TƯỞNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Nhân Kỷ niệm 135 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1890-19.5.2025), Sở Khoa học và Công nghệ trân trọng gửi đến độc giả về tư tưởng của Người về phát triển khoa học và công nghệ

 

Bác Hồ dùng thử máy cấy lúa với cán bộ, nhân dân tại Trại thí nghiệm lúa thuộc Sở Nông lâm Hà Nội năm 1960.

Là một lãnh tụ thiên tài của dân tộc trong thời đại mới, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến lĩnh vực khoa học và công nghệ, khẳng định khoa học và kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn trong sự nghiệp giải phóng  dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Hiểu và đánh giá đúng về vai trò, sức mạnh của khoa học và công nghệ và biết cách phát huy tối đa sức mạnh đó trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa không ngừng chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học để tạo dựng các thế hệ cán bộ nghiên cứu, ứng dụng hàn lâm, vừa động viên các sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm phát huy sáng tạo, nâng cao hiệu suất làm việc.

Cả một đời vì sự nghiệp cách mạng, vì hạnh phúc của nhân dân, luôn mong muốn “đồng bào tôi ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”, trong việc hoạch định chủ trương, đường lối lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú ý đến các lực lượng cách mạng, trong đó Khoa học công nghệ là một lực lượng cách mạng như thế. Đồng thời, nguồn lực khoa học công nghệ, nguồn lực trí tuệ là vô hạn, do đó phải biết sử dụng nguồn lực này vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có quan điểm biện chứng về mối quan hệ giữa sản xuất với khoa học và công nghệ. Bên cạnh đó, Người cũng chú trọng khuyến khích việc kết hợp nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp với phong trào sáng kiến, cải tiến kỹ thuật của quần chúng. 

Qua hàng ngàn năm phong kiến, lại trải qua chiến tranh liên miên, bị thực dân Pháp đô hộ hơn 80 năm, thói quen tư duy tiểu nông, ngại thay đổi đã ăn sâu vào tiềm thức đa số người dân Việt. Do đó, việc áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào đời sống nhân dân là rất cần thiết nhưng không thể vội vàng, việc thực hiện một cuộc cách mạng công nghệ trong xã hội phải tiến hành từng bước và có những giai đoạn nhất định. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người cho rằng, trước tiên cần tạo ra thói quen suy nghĩ sáng tạo, cải tiến cách làm việc, cải tiến kỹ thuật trước. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, trong lúc đất nước rơi vào cảnh phải đối phó với thù trong giặc ngoài, nhằm nâng cao hiệu quả lao động sản xuất, Bác kêu gọi cán bộ, nhân dân trong làm việc, phải phát huy sáng kiến. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), Bác đã nói rõ: “Sáng kiến không phải cái gì kỳ lạ hay chung chung, trừu tượng. Nó chỉ là kết quả của sự nghiên cứu, suy nghĩ trong những hoàn cảnh, những điều kiện bình thường, rất phổ thông, rất thiết thực”. Giai đoạn 1946-1954, với tinh thần kháng chiến-kiến quốc, mọi lực lượng của cải vật chất và tinh thần của toàn dân tộc dồn vào mục đích đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành lại chủ quyền, Bác đã cho rằng, nguồn lực vật chất là hữu hạn, còn nguồn lực trí tuệ, khả năng sáng tạo là vô hạn. Việc cải tiến, nâng cao kỹ thuật trong lao động sản xuất là vô cùng quan trọng. Trong bài nói chuyện tại Đại hội chiến sỹ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc ngày 01/5/1952, Bác đã nhấn mạnh: “Trí khôn, sáng kiến, học hỏi, tiến bộ và tinh thần hy sinh của người ta không có giới hạn, nó cứ tiến mãi”[1]. 

Việc sáng kiến, cải tiến kỹ thuật là những thao tác thực hành khoa học công nghệ ở mức độ đơn giản. Nhưng từ thói quen sáng tạo, thói quen làm việc luôn đổi mới ở mức độ đơn giản như thế dần sẽ tạo thành tư duy khoa học, sẽ tạo thành các phát minh, sáng chế cải biến khoa học công nghệ. Nghiên cứu chuyên nghiệp kết hợp với phong trào sáng tạo của quần chúng sẽ tạo ra những nguồn lực cho sự phát triển của dân tộc. Cũng trong bài nói chuyện tại Đại hội chiến sỹ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc, trong phần nói về cách thi đua, Bác nhấn mạnh: “Các ngành thì nâng cao kỹ thuật. Gom góp sáng kiến. Rút kinh nghiệm, tổng kết kinh nghiệm, trao đổi và phổ biến kinh nghiệm. Sáng kiến và kinh nghiệm là của quý chung cho cả dân tộc. Chúng ta phải ra sức làm cho nó dồi dào thêm và lan rộng mãi...”. Và, “sáng kiến và  kinh nghiệm cũng như những con suối nhỏ chảy vào sông to, những sông to chảy vào bể cả. Không biết quý trọng sáng kiến và phổ biến kinh nghiệm tức là lãng phí của dân tộc”[2].

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, thực hiện hiệp định Giơnevơ, nước ta rơi vào hoàn cảnh Bắc-Nam chia cắt, miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước chưa có thể tính đến việc hoạch định sâu cho khoa học công nghệ, Bác đã nhìn nhận khoa học công nghệ ở tầm là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng. Với tư cách là Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, Bác đã cùng Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá II) ra Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 24/5/1957 "Về việc thành lập Tiểu ban Giáo dục - khoa học Trung ương, và chấn chỉnh sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với công tác giáo dục". Trong bài viết “Tình nghĩa anh em Việt-Ấn-Miến” đăng trên báo Nhân dân từ số 1447 ngày 26/2/1958 đến số 1474 ngày 25/3/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận”[3]. Do vậy, Người yêu cầu, trong học tập không chỉ học lý luận, chính trị mà còn phải học văn hóa, chuyên môn, khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ hiểu biết, năng lực để rèn luyện thành người có tài có đức, người xã hội chủ nghĩa. Năm 1959, Người ký Sắc lệnh thành lập Uỷ ban khoa học và kỹ thuật nhà nước. Tại Đại hội Đảng lần thứ III (năm 1960), Bác tiếp tục được bầu là Chủ tịch Đảng. Trong Văn kiện Nghị quyết đại hội lần này, đã bước đầu đặt vấn đề tiến hành cách mạng XHCN về tư tưởng, văn hoá và khoa học kỹ thuật, đồng thời có sự định hướng phát triển khoa học kỹ thuật. Nghị quyết nhấn mạnh: "Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và phổ biến khoa học và kỹ thuật một cách có trọng điểm, có từng bước vững chắc, nhằm phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh, phục vụ quốc phòng. Ra sức đào tạo cán bộ khoa học và xây dựng các cơ sở nghiên cứu khoa học cần thiết, kết hợp với việc phổ biến rộng rãi những hiểu biết khoa học và kỹ thuật trong đông đảo quần chúng, thúc đẩy phong trào thi đua cải tiến kỹ thuật, sáng chế phát minh. Mở rộng sự hợp tác với các nước anh em trong việc nghiên cứu khoa học, kỹ thuật". Cũng trong Khóa III, Ban Bí thư Trung ương Đảng có Nghị quyết số 157, chỉ rõ: tiếp tục cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng văn hóa tư tưởng và đẩy mạnh cách mạng kỹ thuật. Phân tích các nghị quyết của Trung ương Đảng, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam (18/5/1963), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi”[4].

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nhà máy diêm Thống Nhất (1956).

Hiểu và đánh giá đúng vai trò của khoa học công nghệ với tư cách là một lực lượng cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ và trọng dụng nhân tài: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, phải xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, con người cộng sản chủ nghĩa”[5]. Việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ phải bắt đầu từ thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của cách mạng, của đất nước. Cũng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam tháng 5 năm 1963, Người căn dặn các nhà khoa học đương thời: “Hội còn có nhiệm vụ dạy bảo các cháu thiếu niên về khoa học, kỹ thuật, làm cho các cháu ngay từ thuở nhỏ đã biết yêu khoa học, để mai sau các cháu trở thành những người có thói quen sinh hoạt và làm việc theo khoa học”[6]. Tư tưởng trọng dụng nhân tài, chiêu hiền đãi sĩ “Tìm người tài đức”[7] của Bác ngay từ sau Cách mạng tháng Tám đã quy tụ nhiều nhân sĩ, trí thức và các nhà khoa học tên tuổi về với cách mạng, nhiều người từ bỏ cả cuộc sống êm ấm, giàu sang để theo kháng chiến, đồng kham cộng khổ cùng đồng bào, chiến sĩ. Đó là các tên tuổi lớn như: Hồ Đắc Di, Nguyễn Văn Tố, Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ…

Hưng Yên vinh dự là tỉnh được Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho những tình cảm đặc biệt. Là Chủ tịch nước, bận trăm công ngàn việc, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành thời gian về thăm Hưng Yên đến 10 lần. Riêng năm 1958, Bác Hồ đã về thăm Hưng Yên 5 lần. Người còn dành thời gian viết thư 14 lá thư thăm hỏi, động viên cán bộ và nhân dân Hưng Yên; 20 lần ký sắc lệnh khen thưởng cho tập thể và tặng Huy hiệu của Người cho 67 cá nhân từ các cháu thiếu niên nhi đồng, chiến sĩ dân quân, bộ đội, giáo viên đến các cụ phụ lão, những người con Hưng Yên có thành tích trong chiến đấu, lao động, rèn luyện và học tập… Trong những lần về thăm Hưng Yên, dù cơ bản là động viên làm thủy lợi, làm nông nghiệp, nhưng tư tưởng của Người về khoa học công nghệ cũng thể hiện ở những bài nói chuyện, những phần thưởng của Bác cho cán bộ, nhân dân tỉnh nhà. Trong bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Hưng Yên, sau khi nhận định thành tích vụ chiêm, Người căn dặn những việc cần làm để tranh thủ vụ mùa thắng lợi. Về kỹ thuật, Người nói: “Ta cần cải tiến kỹ thuật cày cấy, làm cỏ, tát nước v.v… Chúng ta sống ở thời đại vệ tinh, mà làm ruộng vẫn giữ cách thức đời xửa đời xưa, như thế là không hợp thời, tiến bộ”[8]. Để động viên sự sáng tạo, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, áp dụng vào sản xuất nâng cao hiệu quả làm việc, ngày 8/6/1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huy hiệu của Người cho anh Vũ Hồng Quân, xã viên hợp tác xã Sông Luộc, xã Anh Dũng (nay là xã Thụy Lôi), huyện Tiên Lữ, có sáng kiến làm guồng nước 1 người đạp, sáng kiến làm xe cải tiến có ổ bi trục bằng sắt.

Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ, trong những năm qua, cùng với cả nước, Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên luôn đổi mới, sáng tạo, áp dụng kỹ thuật mới, công nghệ mới vào học tập, lao động sản xuất và chiến đấu. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Hưng Yên đã đạt được những thành tựu quan trọng. Những kết quả ấy, là tiền đề để Hưng Yên chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tiếp tục phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

T.T.T.T; Trường Long ST.

 

[1] Hồ Chí Minh, toàn tập (2011), Xuất bản lần thứ 3, Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, Tập 7, tr.405

[2] Hồ Chí Minh, toàn tập (2011), Xuất bản lần thứ 3, Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, Tập 7, tr.404

[3] Hồ Chí Minh, toàn tập (2011), Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, Sđd, Tập 11, tr.354

[4] Hồ Chí Minh, toàn tập (2011), Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, Sđd, tập 14, tr.97

[5] Hồ Chí Minh, toàn tập (2011), Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, Sđd, tập 11, tr.595

[6] Hồ Chí Minh, toàn tập (2011), Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, Sđd, tập 14, tr.99

[7] Tên một tác phẩm của Bác

[8] Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hưng Yên, Bác Hồ với Hưng Yên, Hưng Yên với Bác Hồ (2005), Nxb Chính trị Quốc gia- Sự thật, tr.34


Bản đồ hành chính Văn Lâm
Bạn đánh giá thế nào về chất lượng dịch vụ công trực tuyến?

Ý kiến của bạn giúp chúng tôi phục vụ tốt hơn.

Ý KIẾN NGƯỜI DÙNG

Kết quả đánh giá

Chất lượng dịch vụ công trực tuyến

216lượt đánh giá được ghi nhận
Rất hài lòng25%
53 lượt đánh giá
Hài lòng13%
28 lượt đánh giá
Bình thường13%
28 lượt đánh giá
Không hài lòng6%
12 lượt đánh giá
Ý kiến khác44%
95 lượt đánh giá
Cảm ơn bạn đã đóng góp ý kiến!
2.150.608
Tổng truy cập
77
Truy cập hôm nay
18
Đang online