Hưng Yên: Ứng dụng chế phẩm sinh học nâng cao hiệu quả xử lý môi trường nước nuôi thủy sản
Sáng 22/10, tại Nhà văn hóa thôn Minh Châu, xã Đồng Châu, Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hưng Yên) tổ chức Hội nghị đầu bờ báo cáo tổng kết nhiệm vụ khoa học và công nghệ “Ứng dụng chế phẩm sinh học xử lý môi trường nước nuôi thủy sản nhằm phát triển kinh tế biển tại tỉnh Hưng Yên”.

Toàn cảnh hội nghị
Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số, UBND xã Đồng Châu, Viện Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), các hợp tác xã và hộ dân tham gia mô hình.

Các đại biểu tham dự hội nghị
Đưa tiến bộ khoa học vào thực tiễn sản xuất
Theo số liệu báo cáo, đến tháng 6/2026, Hưng Yên có 20.009,2 ha nuôi trồng thủy sản, trong đó diện tích nước mặn và nước lợ chiếm hơn 7.690 ha. Tổng sản lượng thu hoạch đạt 57.874 tấn, giá trị kinh tế đạt 1.272,9 tỷ đồng. Tuy nhiên, tại một số vùng nuôi hải sản trọng điểm, việc sử dụng hóa chất, kháng sinh theo kinh nghiệm vẫn còn phổ biến; chế phẩm vi sinh chưa được sử dụng thường xuyên, chủ động trong quản lý môi trường ao nuôi.
Từ tháng 6/2026, Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số triển khai mô hình tại xã Đồng Châu và xã Đông Thụy Anh, với quy mô 20 ha, có 300 chủ hộ tham gia. Cùng với việc hỗ trợ chế phẩm, Ban chủ nhiệm nhiệm vụ tổ chức 5 lớp tập huấn kỹ thuật cho 350 thành viên các hợp tác xã nuôi hải sản, trong đó có 4 lớp tại xã Đồng Châu và 1 lớp tại xã Đông Thụy Anh.

Chủ nhiệm nhiệm vụ báo cáo kết quả thực hiện mô hình tại hội nghị
Tổng lượng chế phẩm được hỗ trợ gồm 1.500 kg chế phẩm vi sinh xử lý đáy ao và 220 kg chế phẩm vi sinh trộn thức ăn. Người nuôi được hướng dẫn quy trình sử dụng nhằm từng bước nâng cao kiến thức, kỹ năng quản lý môi trường nước và áp dụng các giải pháp sinh học vào quá trình sản xuất.
Một số chỉ tiêu môi trường nước chuyển biến tích cực
Báo cáo tại hội nghị cho thấy, sau 45 ngày theo dõi áp dụng quy trình kỹ thuật, nhiều chỉ tiêu môi trường nước tại vùng nuôi có chuyển biến đáng ghi nhận. Độ pH duy trì tương đối ổn định, trong khoảng 7,85-8,0 ở các lần đo sau xử lý. Hàm lượng oxy hòa tan tăng từ mức dưới 3,0 mg/L trước khi sử dụng chế phẩm lên trên 5,5 mg/L sau 10 ngày và duy trì ở mức này trong các lần theo dõi tiếp theo.
Sau thời gian áp dụng chế phẩm sinh học, môi trường nước ao nuôi có những chuyển biến tích cực: màu nước cải thiện, các chỉ tiêu khí độc và nitrit giảm, H₂S không được phát hiện ở các lần đo ngày thứ 25 và 45; mật độ vi khuẩn có hại cũng giảm đáng kể. Kết quả bước đầu cho thấy chế phẩm sinh học có tác dụng hỗ trợ cải thiện chất lượng nước, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý môi trường ao nuôi.

Đại diện Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số phát biểu tại hội nghị
Tại hội nghị, đại diện Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số nhấn mạnh vai trò phối hợp giữa đội ngũ chuyên gia, chính quyền địa phương, các hợp tác xã và người nuôi trong quá trình triển khai. Quy trình kỹ thuật sử dụng chế phẩm sinh học, từ trộn men vi sinh vào thức ăn đến xử lý đáy ao định kỳ, là cơ sở để các hộ tiếp tục nghiên cứu, áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng nuôi.
Hướng tới phát triển thủy sản an toàn, bền vững
Bên cạnh kết quả bước đầu, hội nghị cũng chỉ ra những khó khăn tại các vùng nuôi thủy sản ven biển như chất lượng nguồn nước cấp phụ thuộc vào thủy triều, thiếu hệ thống ao lắng xử lý nước đầu vào và đầu ra riêng biệt, nguồn giống tự nhiên như cua, ngao chưa ổn định.

Đại diện lãnh đạo UBND xã Đồng Châu phát biểu tại hội nghị
Từ thực tiễn đó, các đại biểu đề xuất tiếp tục quan tâm quy hoạch đồng bộ vùng nuôi thủy hải sản, nghiên cứu lắp đặt hệ thống cảnh báo chất lượng nước tự động; đồng thời đẩy mạnh các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, thử nghiệm thêm các chế phẩm vi sinh và thảo dược phục vụ phòng, trị bệnh trong nuôi thủy sản.

Các đại biểu tham quan mô hình
Việc triển khai mô hình góp phần đưa tiến bộ khoa học và công nghệ đến gần hơn với người sản xuất, tạo cơ sở thực tiễn cho việc đổi mới phương thức quản lý môi trường ao nuôi. Đây cũng là hướng đi cần tiếp tục được đánh giá, hoàn thiện và nhân rộng phù hợp, góp phần phát triển kinh tế biển Hưng Yên theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững.


Hình ảnh Tôm thương phẩm nuôi ở môi trường nước được xử lý bằng chế phẩm vi sinh theo quy trình của mô hình
